GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ VIỆT Y PHÁP

GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ VIỆT Y PHÁP

GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ VIỆT Y PHÁP

GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ VIỆT Y PHÁP

GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ VIỆT Y PHÁP
GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ VIỆT Y PHÁP

Đường dây nóng: 0903 714 047

A- GIỚI THIỆU TÓM LƯỢC VỀ VIỆT Y PHÁP

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT 

LIỆU PHÁP GEN VIỆT Y - VIỆT Y PHÁP

CHƯƠNG I : NHỮNG KHÁI NIỆM

1 – Khái niệm chung :

     Liệu pháp gen Việt Y – gọi tắt Việt Y Pháp, là phương pháp tầm soát khám chẩn đoán bệnh và điều trị chữa bệnh căn cứ vào những hiện tượng biểu hiện thuộc tính của não thần kinh trên mặt da.

      Hiện tượng khách quan đó là gì?

1.1 – Có nhiều vị trí trên mặt da khi châm kim vào không gây cảm giác đau, rút kim ra không gây chảy máu được người xưa gọi là Huyệt (vulnerrabl spots), là đầu đường dây graphene hai chiều nối liền với trung tâm não thần kinh do Tạo hóa thiết lập từ khi mầm của sự sống còn là con tinh trùng rồi hóa hiện trên mặt da thai nhi để dẫn truyền năng lượng jun/giây do lực hút Trái đất, trọng lượng Khí quyển và hoạt động hô hấp của phổi làm cho tế bào vùng Huyệt dịch chuyển khi thai nhi cất tiếng khóc chào đời với động thái tay chân không ngừng chòi đạp, khởi động các mã gen do tổ tiên con người nhân bản ADN truyền lại trong các tế bào não thần kinh, duy trì hoạt động của các cơ quan trong và ngoài cơ thể đúng chức năng quy định của Tạo hóa trong chu kỳ sinh lão bệnh tử mà tổ tiên từng vượt qua mọi bệnh tật và biến động khắc nghiệt của môi trường để tồn tại ;

1.2 – Sinh huyệt (living point), là vị trí đau thốn nóng rát khác lạ khi dùng que dò hoặc dùng nhang ngải cứu dò tìm hoặc không có cảm giác hoặc nhìn thấy các chấm đỏ đen li ti chỉ xuất hiện khi có bệnh và mất đi khi khỏi bệnh, là đầu đường dây graphene hai chiều do não thần kinh thiết lập nóng để đáp ứng nhu cầu năng lượng jun/giây tự điều chỉnh các cơ quan nội ngoại vi đang có bệnh – vận động đúng chức năng theo mã gen di truyền của tổ tiên – tức khỏi bệnh ;

1.3 – Vị trí của mỗi một huyệt, bao giờ cũng có khoảng cách không đổi với một vị trí của cơ quan trên mặt da như : mắt, mũi, miệng, tai, cổ tay cổ chân . v. v. v.

Những chú ý :

Huyệt có vị trí bất di bất dịch và hoạt động từ khi thai nhi cất tiếng khóc chào đời (phổi bắt đầu hoạt động) và ngừng hoạt động lập tức khi ngừng thở ;

Sinh huyệt xuất hiện đồng thời với hiện tượng đau nhức, mỏi tê, sưng nóng tại cơ quan bị bệnh hoặc khi có một cơ quan vận động không đúng chức năng phối hợp theo quy định của Tạo hóa và lập tức mất đi khi cơ quan khỏi bệnh ; bệnh càng nặng sinh huyệt càng nhiều, càng đau thốn nóng rát ;

Sinh huyệt có xuất hiện trùng lên vị trí của huyệt (trùng khít ít hơn có xê dịch nhỏ).

Đường dây graphene hai chiều chỉ kết nối bằng các nguyên tử của nguyên tố carbon C, do Andre Geim và Konstantin Novoselov phát minh, đoạt giải Noben vật lý năm 2010 .

Theo Vinh Nguyên trên Google đường kính của graphene chỉ bằng đường kính nguyên tử C nhưng bền hơn thép 100 lần, dẫn nhiệt nhanh hơn dây đồng 10 lần, dẫn điện nhanh hơn dây đồng 1 triệu lần).

2 – Sơ đồ huyệt thường dùng :

Căn cứ vào đặc tính khách quan (1.3) – vị trí của một huyệt khoảng cách không đổi với một vị trí của một cơ quan trên da mặt, Việt Y Pháp chiếu thẳng góc mặt bệnh nhân với mặt phẳng song song và được sơ đồ huyệt đúng phương pháp khoa học giữ đúng đặc tính khách quan, có giá trị trong học tập khám và điều trị bệnh.

Để xác định vị trí của huyệt tiện lợi, Việt Y Pháp thiết kế các trục dọc chuẩn và song song ; trục ngang chuẩn và song song hình thành các ô chữ nhật có vị trí của huyệt cần tìm, cần nhớ :

Trục dọc chuẩn OO, là đường thẳng xác định bởi 2 trung điểm của 2 đoạn thẳng nối qua 2 con ngươi của mắt và 2 điểm cao nhất của đầu lông mày ; chia da mặt bệnh nhân thành hai bên : bên phải ký hiệu (+) và bên trái ký hiệu (-).Các trục dọc song song với OO là AA,BB,CC,DD,EE,GG,HH, LL, MM, NN, PP, QQ. (mời xem sơ đồ huyệt trong tay).

Trục ngang chuẩn 00, là đường thẳng sát mép tóc trán và các trục ngang song song với 00 : I I, II II, … XII XII. (mời xem sơ đồ huyệt trong tay).

3 – Tên, chức năng, tác dụng của huyệt :

Việt Y Pháp lấy số nguyên đặt tên cho huyệt.

Căn cứ vào đặc tính khách quan của sinh huyệt : chỉ xuất hiện trên mặt da khi có một cơ quan nội ngoại vi cơ thể tương ứng có bệnh và mất đi khi cơ quan tương ứng đó khỏi bệnh và hiện tượng xuất hiện trùng lên vị trí của huyệt, Việt Y Pháp xác định tên và tác dụng của huyệt với cơ quan nội ngoại vi cơ thể tương ứng đó.

Thí dụ : Khi cơ quan gan, có một trong các bệnh sau đây : men gan cao hơn mức tối đa cho phép, u bướu, xơ cứng một khu vực nào đó của hai thùy gan hoặc có hang ổ của các siêu vi A,B,C – Việt Y Pháp thấy có 03 sinh huyệt thường xuyên xuất hiện trùng với 03 huyệt 50,70, 58 và mất đi khi khỏi bệnh và tiếp tục khảo sát, xác định huyệt 50 liên quan nhiều đến thùy gan phải và huyệt 70, 58 liên quan đến thùy gan trái.Tương tự các huyệt 8, 20, 60, 68, 69 có liên quan đến cơ quan tim, đặc biệt huyệt 57 bên trái (57) có liên quan đến các van của tim và có tác dụng điều chỉnh nhịp tim ổn định nhanh chậm kết quả ngạc nhiên. v.v.v – và đã xác định được tên, chức năng, tác dụng của huyệt cho tất cả các cơ quan nội ngoại vi cơ thể, kể cả não thần kinh, và tuyến yên ═ huyệt 26 có chức năng chỉ huy tất cả các tuyến và có tác dụng cắt lập tức cơn co giật chân tay, phong xù – động kinh.

4 – Đồ hình (diagram) :

4.1 – Đồ hình là hình vẽ, phản ảnh nhận thức của con người về những vùng, những vị trí trên mặt da có sự xuất hiện của sinh huyệt khi có một cơ quan tương ứng bị bệnh bằng phương pháp thống kê nối kết các vị trí đó lại ;

4.2 – Đồ hình là chìa khóa để khám và chữa bệnh : kết quả của khám và chữa bệnh cần được cập nhật thống kê, nối kết vẽ lại đồ hình ngày càng xác đúng hơn ;

4 .3 – Những vị trí trên mặt da đối xứng với bên trong, bên phải và trái, trên dưới vùng tế bào cơ quan nội và ngoại vi cơ thể đang có bệnh lý ; các cấu trúc cơ khớp đồng dạng, đồng tự, đồng thế, đồng cấu trúc mô tế bào ; các dạng hình được tạo bằng các ngón bàn tay có đủ đặc điểm cấu tạo cơ quan nội ngoại vi cơ thể tương ứng .v.v.v. đều có giá trị như đồ hình trong khám và chữa bệnh.

Vì tế bào mặt da vùng đó cũng được mạng lưới thần kinh thực vật bủa đến biểu hiện thuộc tính dung nạp năng lượng jun/giây của não thần kinh.

  Nét nổi bật mang dấu ấn của Việt Y Pháp trong xây dựng đồ hình lần đầu tiên chứng minh được thuyết ngũ hành của Trung y (Hoa Đà) vận dụng trong y khoa là có thật – tìm thấy sinh huyệt xuất hiện đồng thời trên mặt da của một tạng phủ bị bệnh với một tạng phủ cùng hành với tạng phủ đó(theo ngôn từ Trung y).  Thí dụ :

Hành thổ  : Tỳ - Vị cùng hành (Thổ)

 Lá lách, Lá mía – Bao tử cùng hành = Lá lách, Lá mía có bệnh, có sinh huyệt trên mặt da theo đồ hình Lá lách,Lá mía thì Bao tử cũng có sinh huyệt trên đồ hình của bao tử

Hành Mộc : Can – Đỡm cùng hành (Mộc)

        Gan – Mật cùng hành ═ Gan có bệnh, có sinh huyệt trên mặt da theo đồ hình gan thì Mật cũng có sinh huyệt trên đồ hình Mật;

Hành Hỏa : Tâm – Tiểu tràng cùng hành (Hỏa)

          Tim – Ruột non cùng hành ═ Tim có bệnh,có sinh huyệt trên mặt da theo  đồ hình Tim thì Ruột non cũng có sinh huyệt trên đồ hình Ruột non ;

Hành Kim :   Phế -  Đại tràng  cùng hành (Kim)

             Phổi – Ruột già cùng hành ═ Phổi có bệnh, có sinh huyệt trên mặt da theo đồ hình Phổi thì Ruột già cũng có sinh huyệt trên đồ hình Ruột già ;

Hành Thủy : Thận – Bàng quang cùng hành (Thủy)

          Thận – Bàng quang cùng hành ═  Thận có bệnh, có sinh huyệt trên mặt da theo đồ hình Thận thì Bàng quang cũng có sinh huyệt trên đồ hình Bàng quang.

         Chứng minh được thuyết ngũ hành của lão tiền bối Hoa Đà – Việt Y Pháp nắm vững quy luật xuất hiện khách quan của sinh huyệt trên mặt da khi tế bào bị bệnh, nên khám và chẩn đoán bệnh chính xác – có bệnh là có biết – điều trị ngay lập tức – khỏi bệnh nhanh – chi phí điều trị thấp – phục vụ tốt nhất  lợi ích của bệnh nhân !

Dưới đây là những thí dụ bằng hình vẽ minh họa :

Muốn nghiên cứu chi tiết đầy đủ, mời tham khảo sách Việt Y Pháp. 

               

5 – Phác đồ điều trị :

Phác đồ điều trị là những sinh huyệt được chọn lọc trong số sinh huyệt xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng jun/giây của não thần kinh cần phải có đủ để điều chỉnh cơ quan nội ngoại vi cơ thể bị bệnh vận động đúng chức năng theo mã gen.

Các sinh huyệt được chọn là sinh huyệt xuất hiện trùng với huyệt có chức năng dẫn truyền năng lượng đến nhóm tế bào não chỉ huy cơ quan nội ngoại vi đã thực hiện không đúng chức năng, gây bệnh cho cơ quan đang cần điều trị. 

Thí dụ phác đồ Tiêu viêm gồm có các huyệt :

106 – 26 – 61 – 37 – 50 – 38 – 156 . trong đó :

Huyệt 106 có chức năng dẫn năng lượng đến nhóm tế bào não chỉ huy tim ;

Huyệt 26 có chức năng dẫn năng lượng đến nhóm tế bào não chỉ huy tuyến yên, là đầu mối dẫn truyền lệnh hưng phấn của não thần kinh đến tuyến tại nơi tế bào bị viêm nhiễm;

Huyệt 61 có chức năng dẫn năng lượng cho nhóm tế bào não chỉ huy Phổi ;

Huyệt 37 có chức năng dẫn năng lượng cho nhóm tế bào não chỉ huy cơ quan lách ;

Huyệt 50 có chức năng dẫn năng lượng cho nhóm tế bào não chỉ huy cơ quan gan ;

Huyệt 38 có chức năng dẫn năng lượng cho nhóm tế bào não chỉ huy cơ quan thận ;

Huyệt 156 có chức năng dẫn năng lượng cho nhóm tế bào chỉ huy cơ quan bàng quang.

Số sinh huyệt còn lại xuất hiện chủ yếu trên mặt da theo đồ hình mặt da các đồng dạng của cơ quan tạng phủ đang có bệnh.

Việt Y Pháp nhận thức tất cả các loại tế bào bị bệnh chỉ do 02 cơ chế gây bệnh là “ viêm và u bướu ” mà thôi, nhưng biểu hiện cụ thể dưới nhiều dạng khác nhau : (mời tham khảo phụ lục số 5)

 

5.1 – Viêm không nhiểm kháng nguyên và viêm có nhiểm các kháng nguyên, được điều trị bằng phác đồ Tiêu Viêm ;

5.2 – Tế bào bị máu xâm nhập nội bào (bầm tím, bầm sưng, bong gân, đứt giây chằng), được điều trị bằng phác đồ Tiêu viêm khử ứ (làm tan máu bầm) ;

5.3 – Tế bào bị nước xâm nhập nội bào (nặng mặt do uống thuốc giảm đau, thuốc hạ huyết áp, phù thũng ) – được điều trị bằng phác đồ Trừ đàm thấp, thủy ;

5.4 – Tế bào bị u bướu – được điều trị bằng phác đồ Tiêu u trừ bướu ;

5.9 – Số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu không đúng quy định trong một lít máu . v.v.. – được điều trị bằng phác đồ Bổ âm huyết ;

5.10 – Chất lượng máu kém, rối loạn lipid, cholestrol LDL có hại cao gây ra các bệnh huyết áp cao, hẹp hở van tim, tắt nghẻn mạch vành – được điều trị bằng phác đồ : Tiêu mỡ máu & Trừ đàm thấp thủy ;

5.11 – Hàm lượng acid uric trong máu cao, gây bệnh gout – được điều trị bằng phác đồ: Khử trừ uric acid ;

Bằng cách xây dựng phác đồ điều trị như trên, Việt Y Pháp có đầy đủ phác đồ để trị mọi bệnh tật của con người trong chu kỳ sinh lão bệnh tử nếu không quá muộn. (tham khảo phụ lục số 5)

Phác đồ điều trị của Việt Y Pháp đạt các tiêu chí :

  1. Khách quan ;

  2. Tiện lợi vì chỉ trong phạm vi da mặt ;

  3. Phác đồ điều trị đóng góp 70% thành công trong tầm soát chẩn đoán bệnh chính xác, nhanh chóng.

6 – Công đoạn điều trị :

Trong một lần điều trị, người thầy Việt Y Pháp phải thực hiện hai công đoạn không thiếu một :

6.1 – Truyền năng lượng vào các sinh huyệt của phác đồ :

Gọi tắt là đánh phác đồ - viết tắt là ;

6.2 – Truyền năng lượng vào các sinh huyệt xuất hiên trên mặt da theo đồ hình và mặt da các đồng dạng, đối xứng, huyệt liên hệ báo đau :

Gọi tắt là đánh sinh huyệt – viết tắt là SH ;

CHƯƠNG II : NĂNG LƯỢNG

1 – Những tác động trên mặt da các loài động vật sống trên Trái đất :

1.1 – Sức hút của Trái đất – (lực hấp dẫn của vật thể trong vũ trụ) có cường độ F ≥ 1KG/cm2 ;

1.2 – Trọng lượng của Khí quyển – khối lượng vật chất bất kỳ trong khí quyển (các loại khí) đều bị lực hấp dẫn của trái đất tác động và đều có một trọng lượng tạo nên lực F ≤ 1KG/cm2 (atmosphere) ;

1.3 – Các loại bức xạ, sóng quang, từ trường, nhiệt từ Mặt trời đến.

2 – Khái niệm về cơ năng – cách tính :

Lực F (sức người, sức ngựa, sức gió, sức chảy của nước.v.v.) gọi là có ích khi nó làm dịch chuyển một vật thể có khối lượng (m) một quảng đường có độ dài (s) được các nhà khoa học vật lý gọi : F đã sản sinh ra một công cơ học A ═ (F. m. s) giả định đơn vị đo của lực F là KG (kilô gam lực), khối lượng vật thể (m) là kg (kilôgam khối), và độ dài quảng đường (s) là m (mét) thì đơn vị đo công A ═ (F) (m) (s) KGm (đọc là kilôgamét) và công A còn được gọi là cơ năng.

Hoặc A ═ ∫ (F) (m) (s) KGm khi các đại lượng (F), (m), luôn biến đổi.

3 – Khái niệm về nhiệt năng – cách tính :

Gọi Q là nhiệt năng có đơn vị đo là calo ; T là nhiệt độ của nguồn nhiệt có đơn vị đo là độ oC ; (m) là khối lượng của vật thể có đơn vị đo là kg ; (t) là thời gian vật thể chịu tác động của nguồn nhiệt đơn vị đo là giây ; (q) là hệ số hấp thụ nhiệt riêng của vật thể có khối lượng 1g khi nóng lên được 1oC, đơn vị đo là calogam/gy

Qcalo ═ (q) (m) (T) (t – to) trường hợp các đại lượng không biến đổi; Hoặc

Qcalo ═ ∫ (q) (m) (T) (t – to) trường họp các đại lượng (m), (T), luôn biến đổi.

4 – Năng lượng tương ứng với dụng cụ truyền dẫn cho bệnh nhân :

4.1 – Xung điện vào sinh huyệt – cơ năng ═ (F m s) KGm ;

4.2 – Que dò day ấn vào sinh huyệt,

lăn cào vào mặt da bệnh nhân – cơ năng ═ ∫ (F) (m) (s) KGm ;

4.3 – Hơ nhang ngải cứu vào sinh huyệt – nhiệt năng ═ ∫ (q)(m)(T)(t-to).

4.4 – Định luật bảo tồn năng lượng của Lomonosov : Năng lượng không tự nhiên mà có và cũng không tự nhiên mất đi ; Năng lượng chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác hoặc truyền từ vật này sang vật khác mà thôi.

        Định luật Bảo tồn năng lượng là căn cứ khoa học khẳng định các thao tác kỹ thuật như day ấn, xung điện, hơ nhang ngải cứu vào các sinh huyệt của Việt Y Pháp là giải pháp tốt nhất, kịp thời nhất bổ sung năng lượng jun/giây cho não thần kinh nhận đủ - mở được mã gen tương ứng với bệnh, ra lệnh hưng phấn cho tuyến tại tế bào bị bệnh tiết ra chất xúc tác lôi kéo các nguyên tử nguyên tố hóa học mang ion có sẵn trong máu xâm nhập thay thế kết nối điều trị.

5 – Chỉ định và chống chỉ định :
5.1 – Trạng thái huyết áp và nhiệt độ của bệnh nhân nằm trong 135mm/Hg, không bị kẹp ở cả hai trạng thái huyết áp thấp và huyết áp cao, nhiệt độ 38 0C thì mới được truyền năng lượng vào các sinh huyệt.
5.2 – Chỉ được sử dụng kỹ thuật Việt Y Pháp để điều chỉnh huyết áp và nhiệt độ theo đúng mục 5.1

CHƯƠNG III 

MÁU LÀ KHO THUỐC TUYỆT VỜI DO TẠO HÓA XÂY, GIỮ

CHO MỖI CÁ THỂ SỐNG CỦA MUÔN LOÀI ĐỘNG VẬT

Dù là hóa chất cực mạnh do con người làm ra để trị bệnh hay là thảo mộc thần dược do thiên nhiên ban tặng, chúng cũng đều do các nguyên tử của các nguyên tố hóa học có trên trái đất này nhận năng lượng từ bức xạ nhiệt của Mặt trời, sức hút của Trái đất, trọng lượng của Khí quyển kết nối tạo ra muôn loài thực, động vật trong đó có tổ tiên chúng ta (thuyết nguyên tử phân tử của Lomonosov) – và chúng đang tồn tại trong máu chúng ta dưới dạng ion hóa không thiếu loại nào ! 

Khoa học sinh học đã chứng minh : mỗi loài động vật khác nhau, có nhu cầu thức ăn khác nhau, có cấu tạo cơ quan nạp thức ăn khác nhau (lưỡi, răng, hầu), nhưng có cái chung nhất là bộ máy tiêu hóa phải đưa đầy đủ các chất thuộc nhóm glucid, protid, lipid trong thức ăn vào máu.

Chủng loại ăn cỏ, lá cây, vẫn có sữa nuôi con giống như sữa mẹ con người, màu trắng đục với đầy đủ chất ngọt, chất béo, chất đạm và đủ các nguyên tố sắt (Fe), kẽm (Zn), vôi (Ca), magne (Mg) . v.v. dưới dạng ion hóa.

Tương tự các loài săn mồi cũng thế !

Sữa của bất cứ loài động vật nào cũng được não của chúng chỉ huy các cơ quan tạng phủ chế biến từ máu – với đầy đủ chất dinh dưỡng!

Khoa học hóa học đã chứng minh : các nguyên tử của các nguyên tố hóa học ở trạng thái ion hóa muốn kết nối với nhau thành phân tử các hợp chất hữu cơ nào đó, phải có chất xúc tác gì đó phù hợp, trong một môi trường có những yếu tố phù hợp :

      Máu các loài động vật thuộc nhóm “máu nóng” như con người đều có thân nhiệt 37oC , áp lực nội môi cân bằng với áp lực ngoại môi ≥ 2KG/cm2 là môi trường của các chất dinh dưỡng mang ion lưu thông trong động mạch theo nhịp tim đến các cơ quan tạng phủ vào các mao mạch nuôi tế bào.

        Tại các ngã ba động mạch rẽ vào các cơ quan tạng phủ, được tạo hóa thiết kế các chất xúc tác chỉ thu hút các nguyên tử của các nguyên tố hóa học phù hợp với cấu tạo tế bào của cơ quan tạng phủ đó mà thôi.

         Với thiết kế hoàn hảo của Tạo hóa:

       Máu vừa là kho lương thực vừa là kho thuốc đầy đủ nguyên liệu nhất, tiện lợi nhất – chỉ cần não được cung cấp đủ năng lượng mở toan mã gen trị bệnh tương ứng, ra lệnh hưng phấn cho tuyến tại tế bào bị bệnh tiết ra chất xúc tác (toa thuốc) lôi kéo các nguyên tử nguyên tố hóa học mang ion có sẳn trong máu thâm nhập thay thế kết nối điều trị.

        Ông bà chúng ta dạy : “đói ăn rau đau uống thuốc”Việt Y Pháp vâng lời dạy bảo !nhưng lấy nguyên liệu thuốc từ trong máulấy công thức pha chế thuốc (chất xúc tác – toa thuốc) từ trong mã gen do tổ tiên chúng ta nhân bản ADN truyền lại ngàn đời !

        Phổ biến rộng rãi kỹ thuật Việt Y Pháp, sẽ thêm một lựa chọn cho người bệnh nâng cao sức khỏe bằng loại hình y tế sạch – và cũng là giải pháp tối ưu bảo vệ môi trường cho mỗi quốc gia trên trái đất này !

Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 20 tháng 02 năm 2014

Thầy Nguyễn Thành Linh

Chia sẻ:
Bài viết khác:
Go Top